Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện. Hiển thị tất cả bài đăng

26/3/08

Cõi luân hồi 3

Chương III.
Thiếp tâm ngẫu trung ti… *
Tình chung tình thủy
Tình chân tình si
Người có duyên, tất sẽ gặp được nhau, nhưng duyên đó là gì thì không ai có thể biết được. Số phận đã định, người trần mắt thịt cũng chẳng có cách nào thay đổi được. Bạch đại ca với tôi vốn dĩ cho rằng, không uống Mạnh Bà Thang thì có thể thay đổi số phận định sẵn. Nhưng giờ nghĩ lại, tôi thấy, hình như ngay cả cái việc không uống Mạnh Bà Thang của tôi cũng là một hành động đã được dự trước. Tất cả như Bồ Tát đã nói : mọi việc tùy duyên.

Ngay khi tôi vừa rời khỏi vực sâu đó, tôi đã nhìn thấy Bạch đại ca. Nhưng sao ánh mắt của Bạch Đại Ca bỗng thất thần như thế. Nhìn theo ánh mắt đó, tôi thấy thiếu gia của mình đột nhiên ngất lịm. Chủ nhân của tôi và đám gia nhân cuống quýt chạy xung quanh, khóc lóc ầm ĩ, trong số đó có cả cha mẹ tôi. Hai người cùng lăn lộn khóc lóc. Bất giác một cảm giác đau nhói dội lên trong tim tôi. Tôi mơ hồ nhận ra sự thật. Tôi, cả tôi và Bạch đại ca, chúng tôi đã sai rồi. Trong giây lát đó, tôi đã ước, tôi không biết gì về quá khứ, về những chuyện đã xảy ra, về ân tình của người đó. Thật nực cười, tiểu ngạ quỷ của tôi lại là vị thiếu gia mà tôi một mực từ chối. Đúng là số phận, cố ý làm trái cũng chẳng được gì. Bạch đại ca có lẽ cũng đã biết trước về đoạn duyên phận này giữa tôi và tiểu ngạ quỷ, tiếc là, khéo quá hóa vụng, chữa lành thành hư, mà cũng không hẳn, chỉ là, không thể thay đổi được gì.

Bây giờ, Bạch đại ca lại đưa tôi về Uổng Tử Thành. Duyên phận của tôi với tiểu ngạ quỷ đã hết. Bồ Tát đã nói : tiểu ngạ quỷ đã cho tôi một kiếp luân hồi, tôi phải cả đời hầu hạ cho người ấy, tiểu ngạ quỷ cho tôi một kiếp luân hồi, là vì tôi phải chết oan vì người ấy. Duyên kiếp giữa chúng tôi thế là đã tận, từ nay tôi lại trở thành một oan quỷ trong Uổng Tử Thành.

Những ngày lạnh lẽo của tôi lại bắt đầu. Bây giờ, thay vì đứng ở dưới trông lên, chỗ của tôi là ở trong thành, vọng ngóng ra ngoài. Tôi tự hỏi mình, tôi có gì tiếc nuối không, hình như không. Người ta nói vạn vật tùy duyên, điều đó giờ tôi đã hiểu. Cố chấp cũng chẳng được gì, cứ tưởng rằng tìm ra một cách đi khác thì có thể thay đổi được số phận, mà đâu hay rằng mỗi hành động của mình đều đã được dự trước. Tái sinh rồi cũng chỉ đến thế mà thôi, yêu thương chỉ sinh lầm lạc, sinh hoài nghi đau khổ, không chỉ cho mình mà còn cho cả người khác. Nếu như ngày ấy tôi không lạc đường, tôi không được tiểu ngạ quỷ ấy giúp đỡ, thì làm gì khiến cho người ấy phải rơi vào một nghìn năm lầm lạc. Nếu như tôi không tái sinh cùng có với người ấy một đoạn duyên phận, thì làm gì một lần nữa, tôi lại đẩy người ấy vào tuyệt vọng đau khổ. Và nếu tôi không tái sinh, chắc cha mẹ tôi với chủ nhân của tôi đã không bị đau khổ vì mất mát chia ly, chắc người mà tôi tưởng là tiểu ngạ quỷ đó cũng không bị tôi cuốn theo vào kiếp số này. Có với nhau một đoạn duyên, là do luân hồi, nhưng giá như tôi không tái sinh, thì tôi sẽ không phải là nguyên nhân cho tất cả những ngang trái đau khổ đó.

Những ngày trong Uổng Tử thành vô vị mà cũng không hẳn là vô vị. Tôi lại đứng trên tường thành, nhưng không cố vọng ngóng về quê cũ nữa. Xét cho đến cùng, đoạn duyện phận đó của tôi chỉ là một thiên phóng bút của số phận, nhằm kết thúc mối quan hệ luân hồi nhân quả giữa tôi và tiểu ngạ quỷ đó. Là thật đấy, nhưng cũng chỉ là ảo đấy, dù là thật hay ảo thì nó cũng là một sự đã qua. Nên coi như đó là một giấc mộng, đau khổ tương tư chỉ là hư vô. Con tim đã không còn, thì làm gì phải vì ai mà rung động. Duyên kiếp cũng không còn, thì làm gì phải ngóng trông chờ đợi. Mặt trời đã không còn, thì tiếc nuối làm chi những ấm áp mơ hồ. Mùa xuân vĩnh viễn đã không đến, thì ước ao làm chi tới hoa cỏ hay hương thơm. Xét cho đến cũng, những cái đó dẫu có hay không, thì cũng không thể thay đổi được cái sự thật rằng, vĩnh viễn tôi không được tái sinh, vĩnh viễn tôi chỉ là một oan quỷ. Làm oan quỷ trong Uổng Tử Thành cũng tốt, những tiếc nuối đau thương của tôi sẽ không cần phải chồng chất thêm, càng đỡ có những người làm tôi phải thêm đau khổ, và đỡ có những người phải đau khổ vì tôi. Quan hệ ràng buộc với người khác, càng bớt đi chừng nào, trái đắng càng ít chừng đó.

Những oan quỷ chung quanh tôi cũng rất nhiều, ngày càng nhiều lên. Thế gian sao có nhiều điều đau khổ đến như thế. Tôi thấy có những oan quỷ giống như tôi ngày xưa, gạt lệ mà ngóng trông về quê cũ. Lại có những oan quỷ khác, ngày ngày đi lại dật dờ, tiếc nuối những kỷ niệm xa xưa, tình yêu, hạnh phúc, tiền tài, danh vọng. Hình như chẳng mấy ai giác ngộ được như tôi. Hoặc giả họ không biết rằng, tất cả những hành động, những ký ức đó của họ chỉ là một đoạn duyên phận mà số phận đã dày công soạn sẵn, họ cứ tưởng rằng nó thuộc về chính mình, tự mình gây ra, mà đâu hay rằng, họ chỉ là một con rối trong bàn tay vạn năng của số phận. Yêu thương, căm ghét, hạnh phúc, đau khổ, đó là những loại gia vị mà số phận tùy tiện nhỏ vào cuộc sống của mỗi người, trước khi đẩy họ đi tái sinh, và mãn nguyện khoác lên mình nó cái vỏ bọc rất mỹ miều “ luân hồi – nhân quả”

Tôi giờ đã thấy tiểu ngạ quỷ của tôi, à không, tôi đã dùng sai từ, người ấy đâu phải của tôi, chỉ là “tiểu ngạ quỷ”, cùng lắm thì thêm vào “ tiểu ngạ quỷ bên cầu Nại Hà”, thế thôi. Người ấy ngày ngày vẫn cần mẫn đi tuần bên cầu Nại hà, như một nét chấm phá trong bức tranh tổng thể khung cảnh Âm Giới. Nhưng tại sao hồi xưa ấy tôi chưa từng nhận ra nhỉ, khi mà người ấy là người đã giúp đỡ tôi khi tôi mới đến nơi này. Chắc tại hồi đó tôi còn chấp nê, còn mải ảo vọng về quá khứ, không được thông suốt như bây giờ.

Mỗi ngày, tôi đều thấy tiểu ngạ quỷ ấy đi tuần bên cầu Nại Hà. Điều ấy diễn ra một cách thường xuyên đến mức, dần dần, tôi coi đó là niềm vui của mình. Người ấy đi tuần ở phía dưới, còn ở phía trên này, tôi đứng nhìn theo. Đôi lúc, tôi thấy người ấy ngồi trầm tư suy nghĩ gì đó mông lung lắm, trán người ấy nhăn lại, nhìn trông khá buồn cười. Là trông buồn cười chứ không phải đáng sợ, không hiểu vì sao tôi tuyệt nhiên không thấy sợ khi nhìn thấy người ấy. Xét cho đến cùng, những con người tôi đã gặp, đẹp đẽ hay xấu xí cũng chỉ là do một tay tô vẽ của số phận, nhằm đạt được cái gọi là luân hồi nhân quả. Khi thác xuống đây, những hình hài đó nhanh chóng tan thành cát bụi, thành hư vô, vốn dĩ không tồn tại quá một kiếp người.Chỉ có tiểu ngạ quỷ ấy, hình dung ấy mới đích thực là của người đó. Có một hình dung vĩnh viễn không thay đổi, dẫu có như thế cũng là một điểm đáng ghen tỵ, đáng kính phục, có gì mà phải kinh sợ.

Rồi đến một ngày, cái cuộc sống bình dị của tôi đã thay đổi.

Ngày hôm ấy, một sự kiện kinh khủng đã xảy ra, làm không chỉ các oan hồn chúng tôi nhớn nhác, mà rung chuyển cả thế giới Âm Tào. Một phán quan vì yêu thương một cô gái con người mà trốn bỏ trốn lên trần gian. Đương nhiên, vị phán quan đã bị bắt lại, và cô gái kia cũng bị đày theo xuống Uổng Tử Thành. Mà cô ấy còn bị biệt giam vào hang địa ngục tăm tối, chứ không được thong dong đi lại trên tường thành như chúng tôi. Thật là nghiệt duyên, vị phán quan đó đã nhanh chóng bị sét đánh tan thành tro bụi vì đã dám lớn tiếng phỉ báng thần linh.

Tru Hồn đài sau đó trở lại tĩnh lặng vô cùng, mọi người bỏ đi hết, nhưng tôi thấy tiểu ngạ quỷ vẫn ở lại, dáng vẻ câm lặng đau khổ. Là một tiểu ngạ quỷ mà vẫn có tình đến như thế ư, một nghìn năm tu luyện, rồi ảo duyên vẫn chưa làm người ấy tỉnh ngộ ư. Tại sao chỉ trong chốc lát tôi đã nhận ra được thực và ảo, mà người ấy nghìn năm vẫn chấp nê. Cứ phải mua sầu chuốc não vào mình làm chi cho thêm vướng bận. Người ấy vì mê chấp trong ảo duyên mà dám phỉ báng cả thánh thần, người ấy là người viết nên số phận mà lại dám đi ngược lại số phận, là người chấp pháp mà đi ngược lại luật pháp, hậu quả người ấy gánh chịu là đương nhiên, có chi phải đau xót hay khổ sở. Khi ta gieo một cái nhân, ta đã phải biết quả nó như thế nào rồi. Những tiểu quỷ như chúng tôi phải chịu sự chỉ dẫn của số phận, làm theo như những con rối, mà chúng tôi vẫn còn phải vào Uổng Tử Thành vì cái tội không biết quý sinh mạng, thì vị Phán quan ấy phải chịu sét đánh tan thành tro bụi, và người con gái ấy phải vĩnh đọa diêm la là điều đương nhiên, sao phải băn khoăn giận dữ. Tôi thật sự không thể hiểu. Nếu đem tâm mà thương xót cho vạn sự thế gian, thì tâm nào cho đủ, đến như Bồ Tát cũng chỉ ngồi trên tòa sen lạnh lùng ra lệnh mà thôi, một tiểu ngạ quỷ nhỏ nhoi sao lại bao đồng đến như thế ?

Tiểu Ngạ Quỷ vẫn đứng đó đau đớn, rồi đột nhiên cúi xuống. Tôi thấy người ấy nhặt từ dưới đất lên một vuông lụa nhỏ, đọc chăm chú, rồi một giọt nước mắt đột nhiên lăn dài trên khuôn mặt khắc khổ. Nước mắt ư. Đã từ lâu tôi lãng quên điều đó, ngày xưa, tôi cũng từng có nước mắt như thế, cái lúc mà tôi bị người ấy chia uyên rẽ thúy, cái lúc mà đôi chúng tôi bị bắt lại sau khi bỏ trốn. Điều đó đã xa lắm rồi, ký ức đó tôi đã chôn vùi bao nhiêu năm, tại sao bây giờ chỉ vì một giọt nước mắt của tiểu ngạ quỷ ấy mà lại dội lên. Không, tôi không đau, tôi làm gì có tim mà đau. Tôi quay ngoắt đi, bỏ vào lại trong Uổng Tử Thành.


* * & * *

Sau ngày xử tội Tần Phán Quan, tôi không còn thấy tiểu ngạ quỷ nữa.

Hàng ngày, những vong quỷ vẫn tiếp tục phiêu phiêu trên mặt thành, bên cầu Nại hà, đàn đàn lũ lũ những vong hồn vẫn qua lại như mắc cửi, kẻ đi vào Uổng Tử Thành, kẻ lên Chuyển Luân Đài. Tâm trạng mỗi vong quỷ cũng khác nhau, có kẻ vui vẻ, có kẻ buồn rầu, có kẻ thì dửng dưng tỏ ý chẳng quan tâm gì cả. Tôi nhiều khi ngồi nhìn nét mặt từng vong quỷ, đoán xem liệu vong quỷ đó sẽ đi vào Uổng Tử Thành hay Chuyển Luân Đài. Càng về sau, khả năng phán đoán của tôi càng tinh tế, hầu như không trượt chút nào.

Một ngày, khi tôi đang đứng nhìn các vong hồn đi đi lại lại dưới chân Uổng Tử Thành, tôi bỗng nhiên thấy Bạch đại ca đi qua. Tôi bất giác buột miệng gọi, dù rằng tôi biết, điều đó là không thể. Bạch đại ca đã không còn là Bạch đại ca của tôi nữa, kể từ cái hồi tôi đã phụ lòng mong mỏi của đại ca, một lần nữa đẩy tiểu ngạ quỷ vào trầm luân đau khổ. Hiện giờ, nếu Bạch đại ca coi tôi giống như những vong hồn khác, ấy cũng là may mắn cho tôi rồi.

Đương nhiên, Bạch đại ca không quay nhìn tôi. Vốn dĩ tôi không hy vọng gì cả, nhưng không hiểu sao, giây phút đó tim tôi bỗng chùng xuống. À, nếu như tôi có tim, không, chỉ là tôi cảm thấy một cảm giác gì đó rất lạ, rất đau, mà cũng không hiểu đau ở chỗ nào.

Từ hôm đó, tôi mất hẳn cái thói quen đứng trên chân thành để nhìn người qua lại. Tôi sợ một lần nữa, gặp người quen, tôi sẽ gọi, và rồi đáp lại tôi chỉ là những khoảng trống vô tình.

Trong thành mọi thứ trôi thật vô vị. Tôi cứ đi tha thẩn ở từng góc hành lang này, sang góc hành lang khác, hoặc ngồi một chỗ, chờ từng ngày trôi qua. Không có sáng, không có tối, tôi chỉ biết được thời gian trôi qua nhờ có ánh đèn leo lét hắt lại từ phía chân cầu. Khi hai lượt đèn qua lại, ấy là hết một ngày đêm, thế thôi.

Thật kỳ quặc là tôi cứ dùng khái niệm ngày và đêm, trong khi ở đây, cái ngự trị liên tục là bóng tối. Không phải là thứ bóng tối đen sẫm giơ tay lên không nhìn thấy trong những đêm ba mươi, mà là cái bóng tối nhờ nhờ, hiu hắt, đủ cho người ta nhìn thấy bóng dáng của nhau, thế thôi, chứ không rõ hình hay dạng. Mà thực ra những vong hồn cũng làm gì có hình hay dạng, cần gì tới ánh sáng để soi cho tỏ tường.

Một ngày, khi tôi đang tha thẩn trong thành, tôi bỗng nghe thấy tiếng hát từ xa vọng lại :

Thu xanh năm ấy, nhạn lạc bên cầu, duyên gặp nhau
Lòng như nước chảy trôi, mây vẽ ngọn núi thắm
Cúi đầu mỉm miệng cười như hoa sớm, muốn say mê dọc kiếp bên nhau
Từ ấy ngồi dằng dãi đêm thâu, nghe mưa tan vỡ.

Bài hát làm tôi không khỏi thấy lòng dội lên một chút, giọng hát ngọt ngào làm người ta càng tò mò. Lần theo tiếng hát, tôi đến một gian phòng nhỏ. Gian phòng đóng kín, chỉ có một ô cửa sổ nho nhỏ trổ ra ở phía trên, và tiếng hát vẳng ra từ đó.

Tôi bước lại gần, ghé mắt nhìn vào phía trong ô cửa. Phía bên trong tối mờ mờ, tuy nhiên tôi vẫn có thể thấy thấp thoáng bóng một vong quỷ đang ngồi bó gối trên giường. Trên tay vong quỷ ấy cầm một vật gì đó, tôi nhìn không rõ lắm. Tiếng hát chính từ chỗ người đó vẳng ra. Vong quỷ đó chắc mất từ lúc còn khá trẻ, hình dung có vẻ thanh tú, yểu điệu, mái tóc dài như suối, không nhìn rõ mặt nhưng cũng có vẻ là một mỹ nhân. Một mỹ nhân, không hiểu đã làm gì nên tội mà không chỉ bị đày ở Uổng Tử Thành, lại còn biệt giam ở một nơi như thế này ?

Thốt nhiên, đằng sau lưng tôi có tiếng nói :

- Người con gái ấy chính là tình nhân của Tần Phán Quan, muội không nhận ra sao ?

Tôi giật mình quay lại, suýt rơi nước mắt khi nhìn thấy người đằng sau. Chính là người mà tôi đã từng gọi, và đã từng không trả lời : Bạch Vô Thường đại ca. Tôi ấp úng :

- Bạch đại ca… à không, Bạch đại quan, sao người lại ở đây ?

Bạch Vô Thường không trả lời, nhìn tôi chăm chú, rồi đáp :

- Tiểu muội vẫn bình thường chứ ?

Tôi gật đầu :

- Vâng, vẫn bình thường ạ.

Bạch đại ca không nói gì nữa, đột ngột quay bỏ đi. Tôi ngẩn ra, không hiểu nổi vì sao. Như vậy là Bạch đại ca ghét tôi, hay không ghét tôi ? Nếu ghét tôi, sao vẫn gọi tôi là tiểu muội. Nếu không ghét tôi, tại sao chỉ hỏi tôi đúng một câu, rồi lại bỏ đi, không hỏi han gì thêm nữa.

Thốt nhiên, tôi lại nghe thấy một khúc ca nữa, từ xa vọng lại. Lần này tôi nghe rất rõ, giọng buồn da diết, chính là giọng của Bạch Vô Thường đại ca

Trời còn có đức hiếu sinh, cỏ cây tất cũng có tình.
Món ăn có chua cay ngọt mặn, người ai cũng thương nhớ giận hờn
Nhân gian luân hồi vạn kiếp, tránh sao đau khổ yêu thương
Đá núi ngàn năm nước chảy mòn, người vô tình bao giờ cảm động ?

Ngày hôm ấy, khi trở lại chỗ mình, đầu óc tôi vẫn luấn quấn không yên, Hình bóng của vị mỹ nhân trong ngục, tiếng hát của nàng, rồi những câu hát của Bạch Vô Thường đại ca, tất cả cứ đan xen quấn quýt vào nhau, làm tôi không thể nào bình tĩnh lại cho được. Hóa ra đó chính là người đã khiến vị Tần Phán quan kia từ bỏ cả địa vị danh vọng của mình. Người con gái ấy có cảm giác ra sao khi người mình yêu nhất bị đánh tan thành tro bụi, rồi mình thì bị giam cầm vĩnh viễn. Sao người ấy vẫn có thể ngồi đó mà hát cho được. Sao lại thế, sao lại thế ? Tình cảm là cái gì mà khiến người ta có thể luyến lưu mãi, có thể vì nó mà sống, mà hy vọng, dù hoàn toàn chẳng có chút gì để hy vọng.

Những câu hát của Bạch Vô Thường đột nhiên lại vang lên trong đầu tôi “người vô tình bao giờ cảm động, người vô tình bao giờ cảm động ?”

Thốt nhiên, hai giọt nước mắt nóng hổi từ má tôi bỗng tràn ra. Là Nước mắt. Tôi thấy choáng váng, một vong quỷ làm sao có thể có nước mắt? Nhưng nếu không phải là nước mắt, thì cái giọt mặn chát đang lăn dài trên má tôi đây là cái gì?

--------------
* Thiếp tâm ngẫu trung ti, tuy đoạn do khiên liên : Lòng thiếp như tơ trong ngó sen, dù đứt nhưng vẫn vương trên cành

Cõi luân hồi 2

Chương II

Cố ý trồng hoa

Kiếp này tôi chỉ là một tiểu nha đầu nhỏ nhoi. Ba mẹ tôi là người hầu cho người ta, cho nên khi vừa mới sinh ra tôi cũng mang tiếng người hầu của nhà người ta. Người ta thường nói : chạy trời không khỏi nắng, tôi cũng từng không tin. Nhưng sự thật thì cuối cùng nó cũng phơi bày ra tất cả.


Nhà chủ tôi là một thế gia vọng tộc. Tuy cha mẹ tôi là người hầu, nhưng cũng có chút địa vị và uy tín, nên cũng được nhà chủ nể trọng. Thế nên dù là con gái của người hầu, tôi cũng chưa có một ngày phải đi hầu hạ người ta, dù không được đối đãi như những bậc thiên kim tiểu thư thì cũng không đến nỗi bị coi rẻ.

Tôi trước khi đi đầu thai đã không uống Mạnh Bà Thang, cho nên, tôi không giống những đứa trẻ cùng tuổi khác, tôi nhanh nhẹn, xinh xắn, thông minh. Nhà chủ vì thế thường hay cho gọi tôi vào chơi với thiếu gia. Cả gia tộc lớn như vậy mà chỉ có một thiếu gia, đủ thấy người ấy quan trọng đến mức nào. Nhưng đối với tôi, thiếu gia ấy thật là ngốc, thường hay bị tôi bắt nạt. Nếu có người lạ thì tôi còn lễ phép một chút, nhược bằng không có ai, thiếu gia còn phải mài mực cho tôi viết.

Phàm là con người, khi sinh ra, ai cũng muốn mình được nâng niu coi trọng. Có đôi lúc, thấy vị thiếu gia kia nhường nhịn quá, tôi cũng thấy bất nhẫn, nhưng vẫn không có cách nào sửa đổi được tính tình ngỗ ngược của mình. Hơn nữa, tôi quen được nuông chiều rồi, cuộc sống sung sướng yên ả làm tôi thấy hạnh phúc vô cùng.

Nhưng cái hạnh phúc ấy, có phải bao giờ cũng ngắn ngủi.

Một buổi sáng, khi tôi rón rén đi vào thư phòng của thiếu gia, tính hù thiếu gia một chút, tôi bỗng nghe thiếu gia ngâm nga :

“Quan quan thư cưu
Tại hà chi châu
Yểu điệu thục nữ
Quân tử hiếu cầu”

Tim tôi như bị dội lên một cái rất mạnh. Trong phút chốc, kí ức của tôi bỗng dần dần trở nên sáng tỏ. Cái ký ức kinh hoàng ấy, tôi không hề muốn nhớ tới, tưởng như bao nhiêu năm đã làm tôi quên lãng, nhưng câu hát của thiếu gia đã làm tôi vụt quay trở lại. Chao ôi, căn phòng nhỏ với khoảng không gian lúc nào cũng tối mù, những cô hồn lảng vảng trong sương, tường thành rêu phủ mốc, rồi trong gió lúc nào cũng âm ỉ những tiếng kêu khóc rợn người. Và một tiểu ngạ quỷ đã hy sinh một nghìn năm đạo hạnh để nhường sự tái sinh cho tôi.


Tôi hoảng hốt ôm lấy đầu chạy ra ngoài. Trên kia, bầu trời sáng tươi rực rỡ. Những nhành liễu rủ mình xanh mượt bên hồ, xuân sang càng thướt tha diễm lệ. Những cánh diều đủ màu sắc bay vi vút tự do trên trời cao, ngân vang tiếng sáo. Những đóa hoa tươi xinh mơn mởn, chập chờn ong bướm vây quanh. Và những tài tử giai nhân dập dìu quần là áo lượt, tiếng chuyện trò ca hát âm vang rộn rã.


Bầu trời ấy, có thể tôi đã không bao giờ còn được thấy


Tiếng sáo ấy, có thể tôi đã không bao giờ còn được nghe


Màu sắc ấy, có thể không bao giờ tôi còn được thưởng


Và tình cảm ấy, có thể không bao giờ tôi còn được có.


Nhờ có sự hi sinh bao la của người ấy, một tiểu ngạ quỷ nhỏ nhoi canh gác bên cầu Nại Hà, tôi mới có thể thoát khỏi kiếp trầm luân trong Uổng Tử Thành. Bên tai tôi như nghe thấy tiếng ca não nề của người ấy


Môi hồng lệ xanh em điêu đứng nhân gian
Tôi bạc tóc phía bên lề duyên cũ


Không thể nào. Tôi có thể là một cô hồn, nhưng tôi không thể làm một kẻ vô tình bạc nghĩa. Dù muốn dù không, kiếp này tôi nhất định phải tìm ra người ấy, đem cuộc đời này trả cho người ấy.


Ngày tháng cứ trôi qua dần, hết xuân rồi lại đến hè. Tôi càng ngày càng trở nên nhan sắc. Đôi lúc, tôi bắt gặp ánh mắt thắm thiết của vị thiếu gia, đôi mắt ánh lên ngọn lửa của một tình yêu nồng nàn. Tôi vội vã quay mặt đi, tấm chân tình ấy tôi vĩnh viễn không thể nào tiếp nhận cho được. Dù sao người ấy cũng là đại thiếu gia cao sang quyền quý, còn tôi, tôi chỉ là một nô tỳ bé nhỏ, hơn nữa, tấm thân tôi giờ đâu còn thuộc về tôi nữa.


Mùa xuân năm ấy, tôi tròn đôi tám.


Một buổi chiều muộn, tôi và một nữ tỳ có việc phải đi ra ngoài. Lúc chúng tôi về thì trời đã tối, không gian xung quanh lạnh lẽo lắm. Tiếng côn trùng rỉ rả trong ánh trăng mờ càng làm khung cảnh thêm thê lương, đáng sợ. Cô nữ tỳ kia và tôi cùng cảm thấy rợn người, cố rắng rảo bước cho nhanh.


Đột nhiên, tôi vấp phải một hòn đá.


Và đương nhiên, ngọn đèn trên tay tôi chao mạnh rồi vụt tắt.


Ánh trăng non không đủ sức soi sáng trên con đường lạnh lẽo. Bốn bên hiu quạnh, tôi và cô nữ tỳ hoảng hốt nắm chặt lấy tay nhau, không biết phải làm gì tiếp. Không có đèn, dò dẫm bước là điều không thể, nhưng ngồi lại đây thì còn chẳng biết thế nào.


Cô nữ tỳ kia bỗng òa lên khóc vì sợ hãi. Tôi ôm chặt lấy cô, dù thực ra tôi cũng chẳng dũng cảm hơn một chút nào.


Đang khi ấy, phía đằng xa bỗng có tiếng chó sủa, thấp thoáng một ánh đèn hiện ra ở phía xa xa.
Cô nữ tỳ níu chặt lấy tay tôi run rẩy :


- Có phải là quỷ câu hồn không ?


Ba chữ Quỷ câu hồn vọng vào tai tôi như sấm dậy. Quỷ thì sao chứ, tôi đâu có sợ, chính tôi cũng đã từng là một cô hồn, đại ca của tôi còn là Bạch Vô Thường cơ mà. Có gì mà phải sợ. Tôi liền vùng dậy kêu to :


- Có ai ở đó không, giúp chúng tôi với.


Có tiếng đáp từ phía xa xa, gió thổi tạt làm nó trở nên mơ hồ đến mức không thể nào biết được đó là những âm thanh gì. Chỉ có điều, ngọn đèn ấy đã đổi hướng, từ từ đi về phía chúng tôi.


Giây phút ấy tôi tưởng chừng như đã bắt gặp từ lâu lắm rồi, trong một ký ức xa xôi nào đó.


Cũng vẫn với ánh mắt hiền hòa và nụ cười nhẹ nhàng, người ấy giơ cao ngọn đèn và dịu dàng hỏi tôi :


- Hai vị tiểu cô nương có việc gì mà khuya khoắt còn ở nơi đồng không mông quạnh thế này ?


Khi nghe chúng tôi kể lại, người ấy đã ngỏ ý muốn được đưa chúng tôi về nhà. Trong đêm khuya, người ấy giơ cao ngọn đèn, né sang một bên cho chúng tôi đi trước, rồi lẳng lặng theo sau, tuyệt nhiên không có một cử chỉ nào khiếm lễ.


Hai ngày hôm sau, đột nhiên cô bé tỳ nữ đi cùng tôi hôm đó bỗng chạy vào, đưa cho tôi một chiếc khăn lụa, nói rằng của người con trai hôm nọ gửi cho tôi. Tôi từ từ mở ra, chỉ thấy trong đó có một bài thơ :


Xuân sang năm ấy bên cầu
Có cô gái nhỏ thả câu một mình
Nước hồ xanh, áo em xanh
Xuân sao thắm mãi ngàn năm không tàn


Giờ thì tôi biết cảm giác quen thuộc mà người đó mang lại là gì. Ngày xưa, có một lần tôi và thiếu gia đi câu cá ở hồ, tôi đã bắt thiếu gia chạy về nhà kiếm cho tôi một chiếc mũ che nắng, nên lúc đó chỉ còn mình tôi ngồi lại. Bên kia hồ có một chàng trai cứ đứng nhìn tôi, mỉm cười rất dịu dàng. Lúc đó, tôi thấy không thích nên đã cau mày lại, người đó có vẻ hiểu ý nên đã bỏ đi. Hóa ra người con trai đó vẫn còn nhớ đến tôi, đã bao nhiêu năm rồi mà vẫn không quên tôi.


Ánh đèn leo lét trong đêm khuya, cuộc gặp gỡ bất ngờ như định mệnh, nỗi nhớ nhung sâu thẳm của người ấy dành cho tôi, phải chăng, đó chính là tiểu ngạ quỷ năm nào ?

Thu xanh năm ấy, nhạn lạc bên cầu, duyên gặp nhau
Lòng như nước chảy trôi, mây vẽ ngọn núi thắm
Cúi đầu mỉm miệng cười như hoa sớm, muốn say mê dọc kiếp bên nhau

Tiểu ngạ quỷ của tôi chẳng nhớ gì về quá khứ. Có lẽ giây phút đầu thai, người ấy đã không từ chối bát canh Mạnh Bà Thang, cho nên, những kí ức về tôi người ấy không nhớ một chút nào. Nhưng tôi biết, tôi vẫn tồn tại trong tiềm thức của người ấy, người ấy luôn nhìn tôi với một ánh mắt rất dịu dàng, luôn nhường nhịn và yêu thương tôi. Tôi thầm cảm ơn người đã đánh đổi một nghìn năm đạo hạnh để mang lại chút duyên gặp gỡ này cho hai chúng tôi.


Cuộc đời sao nhiều trớ trêu, định mệnh lại một lần nữa trói buộc tôi. Một ngày trở về nhà, tôi như bị sét đánh khi thấy cha mẹ tôi vui mừng thông báo, thiếu gia đã cho người mang lễ sang hỏi tôi làm vợ.


Hình như ngày vui không bao giờ trọn vẹn. Nhân quả là gì, kiếp trước tôi và người ấy có tội nghiệt gì, mấy trăm năm đạo hạnh mà không thể nào có nổi chút duyên vợ chồng với nhau sao?


Không phải Bạch đại ca đã từng nói, người ấy đã phải đổi một nghìn năm đạo hạnh để được có một đoạn duyên với tôi hay sao. Có phải vì Bạch đại ca đã dự trước được tình cảnh như thế này, cho nên Bạch đại ca mới kêu tôi đừng uống Mạnh Bà Thang


Khó khăn gian khổ trập trùng, nhưng tôi nào sá gì.


Người ấy đã bỏ nghìn năm vì tôi, lẽ nào tôi không thể đem tính mạng này đền bồi cho người ấy.


Ánh mắt si mê ngơ ngác của thiếu gia, ánh mắt căm ghét của người làng, ánh mắt đau đớn buồn rầu của người, của cha mẹ tôi tất cả như chìm trong một luồng sương mờ mịt.


Tình là biển khổ, quay đầu là bờ, chỉ cần tôi gật đầu, cuộc sống vinh hoa phú quý ấy sẽ dành cho tôi. Chỉ cần tôi gật đầu, kiếp này tôi sẽ trở thành một mệnh phụ phu nhân đáng kính, cha mẹ tôi sẽ được coi trọng.


Nhưng chỉ cần tôi gật đầu, vĩnh viễn tôi không thể bồi đắp cái chân tình nghìn năm của người ấy.


Thôi thì tôi đành phụ công ơn dưỡng dục của cha mẹ, đem tính mạng này trả cho người ấy.

Cõi luân hồi 1.

Kính tặng chị Trang Hạ
http://360.yahoo.com/trangha75
Chỉ sợ tình thắm thiết, tan vỡ mộng mỹ nhân
Chương I
Duyên sinh duyên tử
Thùy tri, thùy tri
Tôi chỉ là một tiểu quỷ nhỏ bé, một tiểu quỷ như hàng trăm hàng ngàn hàng vạn tiểu quỷ khác. Nhưng giờ tôi là một tiểu quỷ đặc biệt. Bình thường, từ cõi nhân gian trở về chốn này, chúng tôi, hoặc được đưa tới Uổng Tử thành, vạn kiếp không thể siêu sinh, hoặc được gom lại rồi chờ cơ hội đi đầu thai kiếp khác. Mỗi khi chờ đợi, lòng chúng tôi đều vô cùng hồi hộp. Người ta thường nói, chết là hết, không đúng, những gì chúng tôi đã làm tại nhân gian, dẫu người trần gian không biết, nhưng dưới này đều ghi lại đầy đủ, được phán xét bình luận công tội hết sức công bằng.

Ngày hôm ấy, tôi đang ngồi với chúng quỷ thì Bạch Vô Thường đại ca đến.

Vốn dĩ tôi chỉ là một tiểu quỷ thấp bé, hèn kém, làm sao tôi có thể có cơ hội được gặp tới người, chứ đừng nói tới việc gọi người là đại ca. Nhưng khi người đến tìm tôi, chính người đã kêu tôi gọi người là đại ca.

Rồi đại ca đưa tôi đi.

Bọn tiểu quỷ cứ xôn xao nhìn tôi, ý chừng vô cùng kinh ngạc. Tôi cũng rất kinh ngạc, không hiểu vì lẽ gì mà đích thân đại ca lại đến tìm tôi, đưa tôi đi.
Bình thường, như tôi đã nói, chúng tôi chỉ có hai nơi, một là tới Uổng Tử Thành, vạn kiếp không siêu sinh, một là đi đến gặp Mạnh Bà, uống Mạnh Bà Thang rồi đi đầu thai kiếp khác. Chắc chắn tôi không phải tới Uổng Tử Thành, không phải vì tôi tự tin là kiếp trước tôi không làm điều gì sai trái tội lội, mà chỉ là, chúng tôi vừa đi qua Uổng Tử Thành mất rồi. Nơi ấy sao mà lạnh lẽo đến thế. Tường thành sừng sững, rêu phong phủ xám xịt, khí lạnh bốc lên ngùn ngụt, thoang thoảng có những tiếng rên rỉ kêu khóc văng vẳng lại đến rợn người. Trên tường thành có một vài bóng quỷ cô hồn, mờ mờ như sương khói, mắt vọng về chân trời xa xa như nuối tiếc, mong chờ. Hình như thoáng có một ánh mắt nhìn xuống chỗ tôi, xa lắm, tuy tôi không trông không rõ nhưng vẫn có thể cảm nhận được, cái tia sáng lạnh lẽo ấy làm tôi thấy rùng mình. Tự nhiên tôi đi sát lại gần đại ca Bạch Vô thường không dám thở mạnh. À, mà tôi không biết động tác đó có gọi là nín thở hay không, vì thực ra tôi chỉ là một linh hồn, một tiểu quỷ, làm gì có cơ thể mà rùng mình hay nhịn thở. Nhưng ánh mắt đó thực sự làm tôi run sợ, và tôi gần như nép vào cạnh đại ca.

Bạch đại ca quay lại nhìn tôi thoáng vẻ ngạc nhiên, rồi đôi vành môi mỏng dính nhợt nhạt chợt kéo giãn ra thành một nụ cười (ấy là tôi đoán thế, chứ tôi không rõ đó có gọi là một nụ cười hay không). Rồi đại ca vẫn từ tốn đi trước, mặt không nhìn tới tôi, cũng chẳng nhìn lên trên thành, vẻ rất thản nhiên tựa như đó là một chuyện quá ư là bình thường. Tôi líu ríu đi theo đại ca, lòng nửa hồi hộp, nửa hổ thẹn. Xét cho đến cùng thì việc họ không ưa tôi cũng đúng, vì tôi còn được đi đầu thai, họ thì mãi mãi phải ở lại nơi đó.

Bạch Vô Thường đại ca lại dẫn tôi đi qua Chuyển Luân Đài. Tôi biết chỗ này. Sau khi người ta (hồn quỷ - lẽ ra phải nói thế, nhưng tôi cứ quên tôi không còn là một con người) uống Mạnh Bà Thang, người ta sẽ được đưa đến Chuyển Luân Đài để đi đầu thai sang kiếp khác. Lẽ ra nếu tôi không bị giam vào Uổng Tử Thành, tôi sẽ được lên Chuyển Luân Đài, nhưng không hiểu sao đi qua nơi đó rồi mà đại ca vẫn không dừng lại. Vậy thì tôi sẽ được đi đâu, tôi vì sao lại không vào cả hai nơi đó. Lẽ nào còn một chốn nữa mà tôi vẫn chưa từng được nghe nói đến

Tôi không kìm lại được nữa, níu tay Bạch đại ca lại hỏi :
- Bạch Vô Thường đại ca, chúng ta đang đi đâu đây ạ ?
Không quay lại nhìn tôi, cũng không tăng giảm cước bộ, đại ca chỉ nói khẽ một tiếng :
- Về nhà ta.

Chẳng thà tôi không hỏi, chẳng thà đại ca không trả lời, tâm trí tôi còn được chút gì đó sáng sủa hơn một chút. Đại ca trả lời xong, tôi lại càng mơ mơ hồ hồ, nhưng lại không dám hỏi lại. Nhà ta là nhà ai, là nhà tôi chăng, lẽ nào dưới chốn này tôi lại có nhà, điều này thì tôi không tin đâu. Nhưng nếu không phải nhà tôi thì là nhà ai. Hay là nhà đại ca ??? Không thể tin được. Đại ca muốn đưa một tiểu quỷ như tôi về nhà làm gì. Tôi không dám nghĩ tiếp nữa, nếu tôi còn da còn thịt tất mặt tôi sẽ đỏ bừng lên, vì những ý nghĩ đó tuyệt nhiên không thể nào nghĩ ra cho được.

Rồi thì đại ca cũng dừng lại trước một căn nhà nho nhỏ. Đại ca quay lại nhìn tôi rồi đẩy cửa bước vào :

- Đây là nhà ta.

Chắc chắn là Mạnh Bà là một người cực kỳ cẩn thận, cho nên hàng triệu triệu, hàng tỷ tỷ quỷ nam nữ xuống chốn này rồi quay ngược trở lại nhân gian, mà vẫn không ai có thể biết được căn nhà của Bạch Vô Thường nó như thế nào. Hoặc giả cho đến nay mới chỉ có tôi là người duy nhất được tới nơi này, cho nên cũng chỉ mình tôi biết căn nhà của đại ca trông ra làm sao. Mà cũng có thể căn nhà đó bình thường quá, nó chẳng có điểm nào đặc biệt hay kỳ quặc mà người ta không cố tình thì cũng chẳng vô tình lưu giữ vào trong bộ nhớ.

Và tôi đương nhiên không phải là người (quỷ) đặc biệt, cho nên tôi cũng không chú ý lắm đến căn nhà đó.

Vì trong giây phút đó, đầu óc tôi đang mải nghĩ đến một chuyện khác.

Thì làm sao tôi có thể nghĩ đến cái gì khác cơ chứ, khi mà cái giả thuyết của tôi bất thình lình trở thành sự thật. Đúng là Bạch Vô Thường đại ca đang dẫn tôi về nhà, không, tôi đã dùng sai thì của động từ, kể từ giây phút này, cái giây phút tôi bước chân qua cửa nhà đại ca, tôi phải dùng chữ “đã” mới đúng. Bạch Vô Thường đại ca đã dẫn tôi về nhà, đúng từng chữ một, bằng chữ in hoa, với ý nghĩa chân thực và trong sáng nhất, không cường điệu, không thậm xưng, không bóng bẩy gì hết.

Ngày hôm sau, Bạch đại ca cũng chưa về.

Tôi đi đi lại lại trên con đường nhỏ trước cửa nhà. Không gian xung quanh tôi mờ mờ ảo ảo. Cái thế giới này là như thế, chìm sâu dưới lòng đất tối tăm, làm gì có chút ánh sáng nào đâu. Phía đằng xa, Uổng Tử Thành hiện ra sừng sững, những đốm lửa leo lét trôi phiêu phiêu trên tường thành. Ở nơi đó, có bao nhiêu cô hồn đang ngày đêm ngóng trông một cách vô vọng ngày trở về trần gian? Họ vĩnh viễn không được tái sinh, họ biết, nhưng sao họ vẫn không ngừng trông ngóng? Không phải chính họ đã cố tình từ bỏ mạng sống của mình hay sao. Có lẽ, vì nơi đó, họ dẫu từng đau khổ nhưng vẫn đầy những hạnh phúc. Người không biết quý mạng sống của mình thì không bao giờ được tái sinh, biết là như thế, nhưng có phải họ muốn thế đâu. Có những lý do, những nỗi đau khổ làm họ không có cách gì để tồn tại, để rồi, họ chỉ còn cách tự chọn lấy cái chết. Than ôi, con người có bao giờ biết thế nào là đủ, chỉ đến khi vào đến nơi này, họ mới nhận ra, chỉ cần được thấy ánh sáng mặt trời thôi cũng là niềm hạnh phúc vô bờ.

Nhân quả, luân hồi, gieo nhân nào phải gặt quả đó, nhưng liệu có cơ hội nào để họ chuộc lỗi hay không ?

-------

Ngày thứ ba, Bạch đại ca đã trở về. Thực ra tôi cũng chẳng biết đại ca về từ lúc nào. Bạch Vô Thường là câu hồn sứ giả, vô hình vô ảnh, đến đi không ai hay biết, thì một tiểu quỷ nhỏ nhoi như tôi sao có thể biết cho được. Chỉ là khi tôi mở mắt ra, đại ca đã ở đó.

Đại ca ngồi trên cái ghế, lưng xoay lại phía tôi, thế mà khi tôi mở mắt ra, ngay lập tức đại ca đã biết. Đại ca lập tức quay mình trở lại, nhìn tôi có chút gì u uẩn. Tôi vội vàng nhỏm dậy, miệng lúng búng muốn chào mà không ra tiếng, muốn hỏi mà không ra lời, ngàn vạn điều muốn nói mà thốt không nên câu. Bạch gia nhìn tôi thở dài :

- Tiểu muội, ngủ có ngon không ?

Tôi gật vội đầu, cố gắng nuốt một hơi để trấn tĩnh :

- Bạch đại ca, mấy hôm nay đại ca đi đâu vậy. Sao đại ca lại bảo muội ở đây. Rốt cuộc sau này muội sẽ ra sao ?

Bạch gia vẫn nhìn tôi, im lặng hồi lâu rồi mới nói :

- Này muội tử, hôm nay ta dẫn muội đi đầu thai.

Tôi mừng rỡ nhỏm dậy, suýt nữa thì ngã bổ nhào vào Bạch Vô Thường. Thế là tôi cũng được đi đầu thai, chẳng bao lâu nữa tôi sẽ được trở lại với nhân gian tươi đẹp của tôi.
Bạch Vô Thường vẫn nhìn tôi với vẻ buồn rầu, làm niềm vui của tôi bỗng xẹp mất một nửa. Lẽ nào, lẽ nào đại ca không muốn tôi chuyển kiếp.

Ba ngày ở đây, tôi đã nếm trải đủ nỗi cô đơn vắng lặng. Chỉ có ba ngày, nhưng tôi đã không thể chịu đựng nổi cái cảm giác đó. Nhưng… nhưng… từ trước đến giờ Bạch đại ca vẫn ở đây một mình. Có phải vì thế mà Bạch đại ca không vui chăng. Lẽ nào tôi có thể bỏ Bạch ca ở lại đây, mà vui vẻ đi chuyển kiếp.

Bạch Vô Thường đột nhiên nói :

- Này tiểu muội, ta không phải buồn vì tiểu muội đi chuyển kiếp đâu. Muội được vui thì ta cũng vui theo mà, hiểu không ?

Tôi nhìn đại ca, không tin lắm. Nếu không phải vì tôi chuyển kiếp mà Bạch ca đau buồn, vậy thì vì cái gì. Chẳng lẽ vì đại ca câu hồn không đủ, bị Diêm Vương quở phạt chăng?

Bạch gia đột ngột giơ tay như muốn vuốt tóc tôi, nhưng rồi lại rụt tay lại :

- Muội đừng nhìn ta bằng ánh mắt đó. Ôi, chỉ vì ánh mắt này mà tiểu quỷ kia phải trầm luân mấy nghìn năm.

Ánh mắt của Bạch đại ca u hoài quá, làm tôi thấy hoang mang. Ánh mắt nào, tiểu quỷ nào, ánh mắt của tôi thì có liên quan gì đến ai, mà ai phải trầm luân mấy nghìn năm vậy.

Bạch gia nhìn tôi vẻ thương hại :

- Tiểu muội cũng chẳng có lỗi gì, chỉ là tên tiểu quỷ kia quá đa tình mà thôi. Thật là nghiệt căn, nghiệt căn, chấp nê muôn kiếp không thể quay đầu. Than ôi, sao đường ngay lối thẳng không đi, lại cứ đâm quàng vào hang sâu ngõ thẳm như vậy chứ.

Tôi níu tay Bạch ca, tròn mắt ngạc nhiên :

- Đại ca nói gì mà muội không hiểu, tiểu quỷ nào, sao lại trầm luân nghiệt căn ?

Bạch ca lại thở dài :

- Tiểu muội biết để làm gì, vì lát nữa thôi, Mạnh Bà Thang của Mạnh bà cũng làm muội quên sạch, nhớ cũng như không.

Tôi vẫn níu tay áo Bạch Vô Thường nằn nì :

- Đại ca làm tiểu muội không hiểu gì hết. Muội muốn biết, muốn biết thật mà.

Bên ngoài kia, gió từ đâu chợt ùa vào qua cánh cửa chưa khép chặt, lạnh lẽo, âm u. Bạch gia nhìn cánh cửa, nhìn tôi, ngẫm nghĩ một chút rồi nói :

- Này tiểu muội, tiểu muội có biết, một nghìn năm trăm năm trước, tiểu muội vốn là một oan hồn, vốn dĩ phải trầm luân vạn kiếp trong Uổng Tử Thành hay không ?

Giọng của Bạch Vô Thường trầm trầm, buồn bã, giá như tôi còn là một con người, giá như tôi còn nước mắt để rơi, còn tim để đau, thì tôi không thể không rơi nước mắt. Người ấy, người ấy chỉ một ngạ quỷ nhỏ nhoi hèn kém, vậy sao có thể đánh đổi năm trăm năm đạo hạnh của mình chỉ để cho tôi được siêu sinh. Rồi người ấy, chỉ vì nhớ nhung tôi mà lại sẵn sàng đánh đổi cả nghìn năm đạo hạnh, để rồi chỉ cần một đoạn nhân duyên với tôi.

Sao người ta phải khổ như thế.

Sao tôi chẳng nhớ gì về những chuyện đó, cây đèn bị tắt, tiểu ngạ quỷ tốt bụng, lẽ nào tôi lại quên sạch về người ấy như thế chăng.

Mạnh Bà Thang, Mạnh Bà Thang, hay cho loại thuốc lú đó, nó đã làm tôi trở thành một kẻ vô tình bất nghĩa.

Một nghìn năm đạo hạnh của người đã dùng để đánh đổi lấy vài năm duyên phận với tôi. Tôi, tôi phải làm cách nào để trân trọng đoạn duyên phần đó đây.

Bạch Vô Thường đại ca nhìn tôi lắc đầu :

- Vô ích mà thôi. Sau khi uống Mạnh Bà Thang, muội sẽ quên sạch những gì ta đã nói. Ôi, đó là số phận rồi, muốn cũng chẳng thay đổi được.

Tôi nôn nóng nắm lấy tay áo Bạch Vô Thường:

- Có chuyện gì sẽ xảy ra hả đại ca. Không phải tiểu ngạ quỷ ca ca đã đem đánh đổi một nghìn năm đạo hạnh để được gặp muội hay sao. Lẽ nào hai bọn muội không thể gặp nhau, không thể bên nhau ?

Bạch Vô Thường chỉ lắc đầu :

- Thiên cơ bất khả lậu, ta không thể nói gì hơn, luật trời nghiêm lắm. Muội hãy chuẩn bị đi, đã sắp đến giờ rồi, ta sẽ đưa muội đi một đoạn.

Bạch gia cầm ngọn đèn nhỏ đi trước, tôi lầm lũi đi theo sau. Khép lại cánh cổng, tôi nhìn căn nhà thêm một lần nữa rồi rảo bước đi theo đại ca. Nếu nó đã là số phận, thì tôi cũng chẳng có cách nào chống chọi lại, biết trước cũng đâu ích gì.

Chỉ còn cách hy vọng rằng nó sẽ tốt đẹp mà thôi.

Con đường quay trở lại Chuyển Luân Đài, vốn dĩ tôi đã đi qua một lần. Tôi có trí nhớ khá tốt, cho nên dẫu ánh đèn của Bạch Vô Thường đại ca chỉ leo lét, tôi cũng không bị vấp ngã.

Ngọn đèn của Bạch Vô Thường đại ca trong giây phút này sao cũng cô độc và bi ai như thế.

Phía đằng xa, Uổng Tử Thành vẫn đứng sừng sững, những vong quỷ vẫn giơ cao những ngọn đèn leo lét, âm u buồn bã.

Bạch gia đột nhiên dừng lại, trao ngọn đèn cho tôi :

- Phía trước là Chuyển Luân Đài rồi, ta tiễn muội đến đây thôi.

Tôi cầm lấy ngọn đèn, bấn bíu nhìn Bạch ca thêm một lần nữa rồi quay mình quả quyết bước đi. Đằng sau tôi, tôi biết, ánh mắt Bạch ca đang nhìn tôi lưu luyến

Tôi đã không thể quay đầu lại được rồi.

Chuyển Luân Đài nằm sừng sững trước mặt tôi, uy nghiêm. Dưới chân đài là lò thuốc của Mạnh Bà đang sôi sùng sục, nhưng xung quanh không có một ai. Tôi ngơ ngác không biết phải làm gì, liệu tôi có được quyền tự múc Mạnh Bà Thang ra uống hay không.

Đột nhiên, một bàn tay chạm nhẹ vào tôi. Quay lại, tôi thấy Bạch gia đã ở bên cạnh tôi từ lúc nào. Sắc mặt đại ca có vẻ mừng rỡ. Đại ca cứ lẩm nhẩm :

- Thật kỳ lạ, không hiểu Mạnh Bà đột nhiên đi đâu. Có lẽ đây chính là số phận đã định sẵn, muốn tiểu muội muội không quên những chuyện đã xảy ra chăng.

Tôi hoàn toàn không hiểu gì cả, chỉ nhìn Bạch đại ca với vẻ ngạc nhiên. Bạch gia liền đẩy mạnh vào lưng tôi :
- Mau đi lên Chuyển Luân Đài, trong khi Mạnh Bà chưa trở về. Nhớ nhé, tiểu ngạ quỷ đã nhớ nhung quyến luyến muội suốt mấy nghìn năm, đừng phụ lòng nó.
Hết chương I